Tội trộm cắp tài sản: mốc 2 triệu đồng và những trường hợp dưới định lượng vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự

03Th11

Tội trộm cắp tài sản: mốc 2 triệu đồng và những trường hợp dưới định lượng vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự

 


Nhiều người cho rằng lấy trộm tài sản trị giá dưới 2 triệu đồng chỉ bị xử phạt hành chính. Nhận định này chưa đầy đủ. Theo Điều 173 Bộ luật Hình sự, giá trị tài sản chỉ là một trong các căn cứ định tội; trong một số trường hợp, người lấy tài sản dưới 2 triệu đồng vẫn có thể bị phạt tù. Bài viết phân tích các dấu hiệu pháp lý và hệ quả cụ thể.

1. Dấu hiệu pháp lý của tội trộm cắp tài sản

Tội trộm cắp tài sản được quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13, sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 12/2017/QH14 và Luật số 86/2025/QH15.

Đặc trưng của tội này là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản: người phạm tội che giấu hành vi đối với chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản, nhằm chuyển dịch trái phép tài sản thành của mình. Đây là điểm phân biệt với tội cướp giật tài sản (Điều 171 – công khai, nhanh chóng), tội công nhiên chiếm đoạt tài sản (Điều 172) hay tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174 – dùng thủ đoạn gian dối để chủ tài sản tự nguyện giao tài sản). Tội phạm hoàn thành khi người phạm tội đã chiếm giữ được tài sản, không phụ thuộc việc đã tiêu thụ hay chưa.

2. Mốc định lượng và các khung hình phạt

Theo Điều 173, giá trị tài sản chiếm đoạt quyết định khung hình phạt:

  • Khoản 1: tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng – phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm;
  • Khoản 2: từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng, hoặc có tình tiết như có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm, hành hung để tẩu thoát, tái phạm nguy hiểm – phạt tù từ 02 năm đến 07 năm;
  • Khoản 3: từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, hoặc lợi dụng thiên tai, dịch bệnh – phạt tù từ 07 năm đến 15 năm;
  • Khoản 4: từ 500.000.000 đồng trở lên, hoặc lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp – phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.

Ngoài ra, người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng là hình phạt bổ sung (khoản 5 Điều 173).

Giá trị tài sản được xác định theo kết luận của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tại thời điểm, địa điểm tài sản bị chiếm đoạt, không phụ thuộc giá do người bị hại tự kê khai.

3. Dưới 2 triệu đồng vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự

Khoản 1 Điều 173 liệt kê các trường hợp tài sản trị giá dưới 2.000.000 đồng vẫn cấu thành tội phạm, gồm:

  • Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
  • Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các Điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
  • Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
  • Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ;
  • Tài sản là di vật, cổ vật.

Như vậy, một người từng bị phạt hành chính về hành vi trộm cắp, nay tiếp tục lấy trộm một chiếc điện thoại cũ trị giá 1,5 triệu đồng, vẫn có thể bị khởi tố theo khoản 1 Điều 173. Tương tự, lấy trộm chiếc xe đạp cũ là phương tiện mưu sinh duy nhất của người bán hàng rong cũng có thể bị xử lý hình sự dù giá trị nhỏ.

Nếu không thuộc các trường hợp trên, hành vi trộm cắp dưới 2 triệu đồng bị xử phạt vi phạm hành chính theo Nghị định số 282/2025/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội, kèm biện pháp buộc trả lại tài sản hoặc nộp lại số lợi bất hợp pháp.

4. Lưu ý về tuổi chịu trách nhiệm và thẩm quyền

  • Người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi chỉ chịu trách nhiệm hình sự về tội trộm cắp tài sản trong trường hợp thuộc khoản 3, khoản 4 Điều 173 (khoản 2 Điều 12 Bộ luật Hình sự). Người từ đủ 16 tuổi trở lên chịu trách nhiệm ở mọi khung. Việc xử lý người dưới 18 tuổi đồng thời áp dụng Luật Tư pháp người chưa thành niên số 59/2024/QH15.
  • Nơi trình báo, giải quyết: người bị hại trình báo với Công an cấp xã nơi xảy ra sự việc hoặc cơ quan Công an có thẩm quyền; Từ ngày 01/7/2025, vụ án được xét xử sơ thẩm tại Tòa án nhân dân khu vực nơi tội phạm được thực hiện.

5. Tình huống thường gặp và rủi ro

  • “Đã trả lại tài sản thì hết tội”: việc trả lại, bồi thường chỉ là tình tiết giảm nhẹ (điểm b khoản 1 Điều 51), không làm mất tính chất tội phạm. Tội trộm cắp tài sản không thuộc nhóm khởi tố theo yêu cầu của người bị hại (Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự), nên người bị hại rút đơn không đương nhiên dẫn tới đình chỉ.
  • Lấy trộm nhiều lần, mỗi lần dưới 2 triệu đồng: nếu các lần có tính liên tục, cùng ý thức chiếm đoạt, giá trị có thể được cộng dồn để định tội; thực tiễn xét xử cần đánh giá cụ thể từng vụ việc.
  • Mua, cầm cố tài sản do trộm cắp mà có: người mua, nhận cầm cố biết rõ nguồn gốc tài sản có thể bị xử lý về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (Điều 323).
  • Trộm cắp giữa người thân trong gia đình: vẫn có thể cấu thành tội phạm; quan hệ gia đình chỉ được cân nhắc khi quyết định hình phạt.

Kết luận

Mốc 2 triệu đồng không phải “vùng an toàn”. Nhân thân, đặc điểm tài sản và hoàn cảnh phạm tội đều có thể đưa một hành vi tưởng chừng nhỏ vào phạm vi xử lý hình sự. Khi là người bị hại hoặc người bị tố giác, cần sớm được tư vấn để bảo vệ quyền lợi hợp pháp trong quá trình giải quyết tố giác, điều tra, truy tố, xét xử. Tham khảo dịch vụ pháp lý của Luật Sao Kim.

Căn cứ pháp lý: Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13, sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 12/2017/QH14 và Luật số 86/2025/QH15 (Điều 12, 51, 171, 172, 173, 174, 323); Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13 và văn bản sửa đổi, bổ sung (Điều 155); Nghị định số 282/2025/NĐ-CP của Chính phủ.


Công ty Luật TNHH Sao Kim – Hotline/Zalo: 0913 563 994 – Văn phòng: P.301, tòa 493 Thụy Khuê, Tây Hồ, Hà Nội

zalo
facebook