Gây tai nạn giao thông làm chết người: các tình tiết định khung theo Điều 260 Bộ luật Hình sự

23Th10

Gây tai nạn giao thông làm chết người: các tình tiết định khung theo Điều 260 Bộ luật Hình sự

 


Tai nạn giao thông làm chết người là một trong những vụ án hình sự phổ biến nhất được Tòa án đưa ra xét xử hằng năm. Cùng là hậu quả chết người, nhưng người gây tai nạn có thể chỉ bị phạt tiền, cũng có thể phải chịu mức án đến 15 năm tù, tùy theo các tình tiết định khung. Bài viết phân tích cấu thành tội phạm, các khung hình phạt và những vấn đề người dân thường gặp khi giải quyết vụ việc.

1. Căn cứ pháp lý

  • Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 12/2017/QH14: Điều 260 (Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ); Điều 51 (tình tiết giảm nhẹ); Điều 65 (án treo).
  • Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Điều 155 (khởi tố vụ án theo yêu cầu của bị hại).
  • Bộ luật Dân sự 2015, Điều 591 (thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm).
  • Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ số 36/2024/QH15 (hiệu lực từ 01/01/2025).

2. Khi nào hành vi gây tai nạn trở thành tội phạm?

Điều 260 Bộ luật Hình sự áp dụng đối với người tham gia giao thông đường bộ (không chỉ người điều khiển phương tiện) vi phạm quy định về an toàn giao thông và gây thiệt hại. Yếu tố then chốt là phải có hành vi vi phạm quy tắc giao thông và mối quan hệ nhân quả giữa vi phạm đó với hậu quả. Nếu tai nạn xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị nạn hoặc do sự kiện bất ngờ, người điều khiển phương tiện không phạm tội, dù hậu quả chết người đã xảy ra. Tạp chí Tòa án nhân dân đã đăng nhiều bình luận về các vụ án mà Hội đồng xét xử xác định bị cáo không phạm tội vì không có lỗi.

Theo khoản 1 Điều 260, hậu quả làm chết 01 người đã đủ cấu thành tội phạm, với hình phạt: phạt tiền từ 30 triệu đến 100 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

3. Các tình tiết định khung tăng nặng

Khoản 2 – phạt tù từ 03 năm đến 10 năm khi thuộc một trong các trường hợp:

  • Không có giấy phép lái xe theo quy định;
  • Điều khiển phương tiện trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, hoặc có sử dụng chất ma túy, chất kích thích mạnh khác;
  • Bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn;
  • Không chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển hoặc người hướng dẫn giao thông;
  • Làm chết 02 người, hoặc gây thương tích, thiệt hại tài sản ở mức quy định tại khoản này.

Khoản 3 – phạt tù từ 07 năm đến 15 năm khi làm chết 03 người trở lên, gây thương tích cho 03 người trở lên với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 201% trở lên, hoặc gây thiệt hại tài sản từ 1,5 tỷ đồng trở lên.

Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm (khoản 5).

Lưu ý về nồng độ cồn: Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ 2024 cấm tuyệt đối người điều khiển phương tiện có nồng độ cồn trong máu hoặc hơi thở. Tuy nhiên, câu chữ “vượt quá mức quy định” tại điểm b khoản 2 Điều 260 đang có cách hiểu chưa thống nhất; Tạp chí Tòa án nhân dân đã có bài bình luận cho rằng nồng độ cồn chưa vượt mức quy định thì không áp dụng tình tiết định khung này.

4. Tình tiết giảm nhẹ và khả năng được hưởng án treo

Trên thực tế, các tình tiết thường được Tòa án cân nhắc gồm: tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả (điểm b khoản 1 Điều 51); thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải (điểm s khoản 1 Điều 51); gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ; người bị hại cũng có một phần lỗi (khoản 2 Điều 51). Khi bị xét xử theo khoản 1, có nhân thân tốt, nhiều tình tiết giảm nhẹ và đáp ứng điều kiện tại Điều 65, người phạm tội có thể được Tòa án cho hưởng án treo.

Bồi thường dân sự được xác định theo Điều 591 Bộ luật Dân sự 2015, gồm: chi phí cứu chữa, mai táng; tiền cấp dưỡng cho người mà người chết có nghĩa vụ cấp dưỡng; và khoản bù đắp tổn thất về tinh thần không quá 100 lần mức lương cơ sở. Với mức lương cơ sở 2,53 triệu đồng áp dụng từ 01/7/2026, khoản tổn thất tinh thần tối đa là 253 triệu đồng, nếu các bên không có thỏa thuận khác.

5. Tình huống thường gặp và rủi ro

  • “Bãi nại” không chấm dứt vụ án: Tội phạm tại Điều 260 không thuộc các trường hợp khởi tố theo yêu cầu của bị hại tại khoản 1 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự. Gia đình bị hại rút đơn hay đã nhận bồi thường thì vụ án vẫn tiếp tục; đơn xin giảm nhẹ chỉ là căn cứ để Tòa án cân nhắc mức hình phạt.
  • Bỏ chạy khỏi hiện trường: Chỉ một hành vi bỏ chạy có thể đẩy vụ việc từ khoản 1 lên khoản 2, mức án khởi điểm tăng từ 01 năm lên 03 năm tù. Người gây tai nạn cần ở lại, cứu giúp người bị nạn và báo ngay cho cơ quan Công an.
  • Chủ xe giao xe cho người không đủ điều kiện: Có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự theo Điều 264 Bộ luật Hình sự (Tội giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ), đồng thời liên đới trách nhiệm bồi thường.
  • Thỏa thuận bồi thường: Nên lập văn bản thỏa thuận rõ ràng, có người làm chứng hoặc xác nhận của cơ quan tiến hành tố tụng, ghi nhận số tiền đã chi trả để làm căn cứ giảm nhẹ.
  • Thẩm quyền xét xử: Sau cải cách bộ máy tư pháp năm 2025, vụ án loại này thường do Tòa án nhân dân khu vực nơi xảy ra tội phạm xét xử sơ thẩm; Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh hoặc cấp có thẩm quyền theo phân cấp tiến hành điều tra.

Kết luận

Hậu quả chết người là căn cứ cấu thành tội phạm, nhưng chính các tình tiết như nồng độ cồn, giấy phép lái xe, việc bỏ chạy hay số người thiệt mạng mới quyết định khung hình phạt. Người gây tai nạn cần chủ động hợp tác với cơ quan chức năng, khắc phục hậu quả kịp thời; gia đình bị hại cần nắm rõ quyền yêu cầu bồi thường theo pháp luật dân sự. Bạn đọc cần tư vấn, bảo vệ quyền lợi trong vụ án giao thông có thể tham khảo dịch vụ pháp lý của Luật Sao Kim.

Nguồn tham khảo: Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Tạp chí Tòa án nhân dân (tapchitoaan.vn), bài “Nồng độ cồn chưa vượt quá mức quy định thì không phải trách nhiệm hình sự theo điểm b khoản 2 Điều 260 BLHS”; Tạp chí Luật sư Việt Nam (lsvn.vn), các bài bình luận về Điều 260 Bộ luật Hình sự.


Công ty Luật TNHH Sao Kim – Hotline/Zalo: 0913 563 994 – Văn phòng: P.301, tòa 493 Thụy Khuê, Tây Hồ, Hà Nội

zalo
facebook