Cùng là hành vi gian dối để chiếm đoạt tiền của người khác thông qua Internet, nhưng có vụ việc bị truy tố theo Điều 174, có vụ việc theo Điều 290 Bộ luật Hình sự. Việc xác định đúng tội danh không chỉ là vấn đề kỹ thuật pháp lý mà còn quyết định mức hình phạt tối đa, cơ sở bào chữa và quyền lợi của người bị hại.
1. Căn cứ pháp lý
- Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 12/2017/QH14 và Luật số 86/2025/QH15 (hiệu lực từ 01/7/2025): Điều 174 (Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản), Điều 290 (Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản).
- Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13 (sửa đổi, bổ sung), Điều 144, 145, 147 về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm.
- Văn bản giải đáp nghiệp vụ của Tòa án nhân dân tối cao về việc định tội đối với hành vi lừa đảo qua mạng.
2. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174)
Dấu hiệu đặc trưng của tội này là thủ đoạn gian dối (đưa thông tin không đúng sự thật) khiến người bị hại tin tưởng và tự nguyện giao tài sản. Ý thức chiếm đoạt có trước thời điểm nhận tài sản.
Định lượng khởi điểm là tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng; dưới mức này chỉ cấu thành tội phạm khi thuộc các trường hợp luật định (đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt, đã bị kết án chưa được xóa án tích…). Khung hình phạt cao nhất (khoản 4) áp dụng khi chiếm đoạt tài sản trị giá từ 500.000.000 đồng trở lên: phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân.
Trong môi trường mạng, Điều 174 thường được xem xét khi Internet, mạng xã hội chỉ là phương tiện liên lạc để đưa ra thông tin gian dối: ví dụ giả danh cán bộ cơ quan nhà nước gọi điện yêu cầu chuyển tiền “phục vụ điều tra”, hứa hẹn xin việc, “chạy án”, đầu tư lợi nhuận cao.
3. Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử chiếm đoạt tài sản (Điều 290)
Điều 290 được thiết kế cho các hành vi mà mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử là công cụ trực tiếp để chiếm đoạt. Khoản 1 liệt kê các hành vi như:
- Sử dụng thông tin về tài khoản, thẻ ngân hàng của cơ quan, tổ chức, cá nhân để chiếm đoạt tài sản của chủ tài khoản, chủ thẻ hoặc thanh toán hàng hóa, dịch vụ;
- Làm, tạo ra, cung cấp, mua bán thẻ ngân hàng giả nhằm chiếm đoạt tài sản;
- Truy cập bất hợp pháp vào tài khoản của cơ quan, tổ chức, cá nhân nhằm chiếm đoạt tài sản;
- Lừa đảo trong thương mại điện tử, thanh toán điện tử, kinh doanh tiền tệ, huy động vốn, kinh doanh đa cấp hoặc giao dịch chứng khoán qua mạng nhằm chiếm đoạt tài sản;
- Thiết lập, cung cấp trái phép dịch vụ viễn thông, internet nhằm chiếm đoạt tài sản.
Các mức định lượng tương tự Điều 174, nhưng khung cao nhất (khoản 4) là phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, không có hình phạt tù chung thân.
4. Dấu hiệu phân biệt cốt lõi
| Tiêu chí | Điều 174 | Điều 290 |
|---|---|---|
| Vai trò của mạng | Phương tiện liên lạc, truyền tải thông tin gian dối | Công cụ trực tiếp thực hiện hành vi chiếm đoạt |
| Cách tài sản bị chiếm đoạt | Người bị hại tự nguyện giao do bị lừa | Có thể tự giao (lừa đảo trong TMĐT, đầu tư qua mạng) hoặc bị chiếm đoạt không qua ý chí (dùng thông tin thẻ, truy cập trái phép tài khoản) |
| Hình phạt cao nhất | Tù chung thân | Tù 20 năm |
Trong thực tiễn, ranh giới không phải lúc nào cũng rõ: cùng là hành vi “đăng bán hàng trên mạng rồi nhận tiền không giao hàng” từng có quan điểm áp dụng Điều 174, có quan điểm áp dụng điểm “lừa đảo trong thương mại điện tử” của Điều 290. Vì vậy, việc định tội phải căn cứ vào thủ đoạn cụ thể, chứng cứ điện tử và hướng dẫn nghiệp vụ hiện hành của cơ quan tư pháp trung ương.
5. Lưu ý rủi ro và tình huống thường gặp
- Cho thuê, bán tài khoản ngân hàng, SIM: người cho thuê có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự nếu biết tài khoản dùng để nhận tiền lừa đảo; tối thiểu bị xử phạt hành chính và gặp rủi ro trong quá trình điều tra.
- Người bị hại cần làm ngay: liên hệ ngân hàng đề nghị phong tỏa giao dịch; lưu giữ tin nhắn, ghi âm, sao kê, đường dẫn, ảnh chụp màn hình; trình báo Công an cấp xã nơi gần nhất hoặc cơ quan Công an có thẩm quyền. Theo Điều 147 Bộ luật Tố tụng hình sự, thời hạn giải quyết tố giác, tin báo là 20 ngày, có thể gia hạn theo luật định.
- Thẩm quyền xét xử: sau cải cách tổ chức tòa án năm 2025, vụ án hình sự sơ thẩm do Tòa án nhân dân khu vực giải quyết theo quy định hiện hành.
- Cảnh giác các thủ đoạn phổ biến: giả danh Công an, Viện kiểm sát, Tòa án yêu cầu chuyển tiền hoặc cài ứng dụng; tuyển cộng tác viên “làm nhiệm vụ”; đầu tư tiền ảo, sàn ngoại hối không phép. Cơ quan Công an nhiều lần khuyến cáo: cơ quan tiến hành tố tụng không làm việc, yêu cầu chuyển tiền qua điện thoại hay mạng xã hội (nguồn: Báo Pháp luật Việt Nam, Tạp chí Luật sư Việt Nam).
- Bồi thường dân sự: bên cạnh trách nhiệm hình sự, người bị hại có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại, được giải quyết trong cùng vụ án hình sự.
Kết luận
Phân biệt đúng Điều 174 và Điều 290 có ý nghĩa quyết định với cả người bị hại lẫn người bị buộc tội. Khi phát hiện bị lừa đảo qua mạng hoặc bị triệu tập liên quan đến tài khoản, giao dịch điện tử, bạn đọc nên tham vấn luật sư sớm để bảo vệ quyền lợi. Tham khảo dịch vụ pháp lý của Luật Sao Kim.
Nguồn tham khảo: Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung); Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Tạp chí Tòa án nhân dân (tapchitoaan.vn); Tạp chí Luật sư Việt Nam (lsvn.vn); Báo Pháp luật Việt Nam (baophapluat.vn); Cổng thông tin điện tử tỉnh Hà Tĩnh.
Công ty Luật TNHH Sao Kim – Hotline/Zalo: 0913 563 994 – Văn phòng: P.301, tòa 493 Thụy Khuê, Tây Hồ, Hà Nội




